Total Pageviews

Monday, June 27, 2011

Bao giờ thì Biển Đông lặng sóng bành trướng ?

Nguyễn Nghĩa 650 (danlambao) - Kể từ 9/2009 , khi Trung Quốc gửi lên LHQ tấm bản đồ "đường lưỡi bò" trên Biển Đông , đến nay họ đang đi vào giai đoạn hiện thưc ý đồ bành trướng này.

Nhìn vào bản đồ Biển Đông , ta thấy :

Đường lưỡi bò lấy tâm điểm , hay chính xác hơn điểm hạt nhân là Hoàng sa và Trường sa .

Nếu Hoàng sa và một số đảo Trường sa không thuộc Trung quốc quản lý như hiện nay, thì yêu sách đường lưỡi bò là hoàn toàn vô lý , không có một chút cơ sở pháp lý nào.

Ta hãy trở lại với việc Trung quốc tranh dành Hoàng sa , Trường sa với Việt nam ra sao, để hiểu rõ hơn kế sách mà Trung quốc đang tiến hành .

KẾ HIỂM "VÔ TRUNG SINH HỮU" : TRONG CÁI KHÔNG SINH CÁI CÓ.

Nếu chỉ kể từ thế kỷ thứ 19 đến nay, thì ngay từ năm 1816 Hoàng đế Gia Long Triều Nguyễn đã tuyên bố chủ quyền với Hoàng Sa sau khi triều đại này thành lập năm 1802. Năm 1930 Pháp tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa của An Nam, và chủ quyền đối với Trường Sa cho Pháp. Năm 1933 Pháp chính thức chiếm cứ một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó bao gồm đảo Trường Sa, Ba Bình, Thị Tứ và Loại Ta.

Năm 1939, Phát xít Nhật chiếm toàn bộ Hoàng sa và Trường sa từ tay Pháp và Việt nam , biến 2 quần đảo ấy thành căn cứ quân sự trên Biển Đông , đối chọi với Hoa kỳ .

Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Nhật đã rút khỏi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặt các đảo vào tình trạng ‘không có người ở’ .

Năm 1946, lợi dụng Pháp đang gặp khó khăn trong việc chiếm lại Việt nam , Trung quốc cho quân lập sự hiện diện trên đảo Phú Lâm ( ở phía Đông của quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (Trường Sa).


Bia chủ quyền trên đảo Hoàng Sa

Như vậy mặc dù từ không có gì , Trung quốc đã cố tình bỏ qua chủ quyền của Việt nam, thiết đặt sự hiện diện của mình tại Hoáng sa và Trường sa . Sự hiện diện này là trái với luật pháp quốc tế , xâm phạm chủ quyền của Việt nam . Sau khi đã có mặt trên một số đảo của Hoàng sa và Trường sa , Trung quốc bắt đầu xây dựng cơ sở pháp lý bằng tuyên bố chủ quyền của họ đối với Hoàng sa , Trường sa .

Kế biến không thành có của họ là như vậy .

Do sự nhận thức yếu kém của Việt nam về biển đảo. Do sự mù quáng , cả tin vào chủ nghĩa quốc tế vô sản , Việt nam đã đấu tranh không đủ mạnh cả về việc đưa ra công luận thế giới, cả đến việc cương quyết không chịu lùi một tất đất , tất biển của tổ tiên để lại .

Ngày hôm nay, toàn bộ Hoàng sa đã nằm trong quyền kiểm soát của Trung quốc sau việc dùng vũ lực 1974.

Một số đảo thuộc Trường sa cũng bị Trung quốc chiếm bằng hải chiến 1988.

Trên cơ sở này , Trung quốc dấn tiếp bành trướng ra Biển Đông băng đường chín khúc " lưỡi bò trung hoa ". Đặt Biển Đông vào quyền lợi cốt lõi của Trung quốc , ngụ ý sẽ dùng tất cả biện pháp kể cả vũ lực để bảo vệ "" cốt lõi" ấy. Trung quốc đang gây căng thẳng trên Biển Đông .

Đây cũng là một hình thức hợp pháp hóa cho cái gọi là "có" sau khi được hóa phép từ "không có".

Đường lưỡi bò là hậu quả nghiêm trọng của chính sách cầu hòa, quị lụy của chính phủ cộng sản Việt nam .

Việc để cho đất đai tổ tiên rơi vào tay Trung quốc mà không có đối sách rõ ràng, đã khuyến khích Trung quốc ngang ngược thực hiện kế hoạch bành trướng của họ ra Biển Đông .

Nguy hiểm hơn nữa , Trung quốc vẫn chưa chịu dừng ở vị trí này .

Họ còn muốn nhiều hơn nữa . Muốn chiếm hết cả Biển Đông . Cả vùng biển 200 hải lý tính từ đất liền của Việt nam.

Việc cắt cáp thăm dò dầu khí ngày 26/5/11 của tầu Bình minh 02, cắt cáp của tầu Viking II ngay 9/6/11 tại vùng biển 200 hải lý của VIỆT NAM, việc chính phủ Trung quốc tuyên bố đây là lãnh hải thuộc Trung quốc , đang được các nhà bình luận chính trị Việt nam và thế giới đánh giá là Trung quốc tiếp tục dùng mưu biến không thành có , biến vùng biển của Việt nam thành vùng biển của Trung quốc , biến vùng biển không tranh chấp thành vùng có tranh chấp. Đây là sự kiện chưa hề có trên thế giới . Hành động ngang ngược này của Trung quốc chứng tỏ dã tâm lớn của Trung quốc .

Đây là mưu cũ mà có nội dung mới . Chung qui vẫn chỉ là : cướp của Việt nam , to mồm la làng , dùng sức mạnh lấn lướt ép Việt nam chịu lép . Lâu ngày Việt nam phải thua , phải chịu chấp nhận hiện trạng .

Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính. Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam đứng vào hạng trung bình trong khu vực, tương đương Thái Lan và Malaysia.

Biển Đông ngoài trữ lượng dầu hỏa , khí đốt, còn mang lại nguồn hải sản lớn lao . Thí dụ Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu tấn/năm). Một điều rất quan trọng là vị trí chiến lược của nó trong tranh dành quyền lực của Trung quốc với Hoa kỳ tại Châu á Thái bình dương.

Vì vậy việc hy vọng dùng lẽ phải, dùng luật quốc tế để thảo luận với Trung quốc cơ hồ đòi lại chủ quyền ở Hoàng sa , Trường sa là điều gần như không tưởng .

Vụ cắt cáp ngày 26/5 và 9/6 trong lãnh hải Việt nam là một bước tiến nguy hiểm của Trung quốc trong kế hoạch bành trướng của họ ra Biển Đông . Trong kế hoạch này , họ sẽ đưa tầu sân bay vào hoạt động trên Biển Đông , đưa đe dọa không lực tới gần vùng biển đang tranh chấp .Cũng trong giai đoạn này , Trung quốc sẽ đưa vào Biển Đông dàn khoan khổng lồ có khả năng khoan sâu 12 000 m, để khai thác dầu khí .

Nếu tính từ 1958, khi quốc hội Trung quốc tuyên bố chủ quyền của Trung quốc đối với Hoàng sa, Trường sa, đến 1974, khi Trung quốc dùng hải chiến chiếm Hoàng sa, là 16 năm. Nếu tính từ 9/2009, khi Trung quốc lấp lửng nói về đường lưỡi bò, đến ngày 29/5/11 khi người phát ngôn chính phủ Trung quốc tuyên bố việc tầu hải giám của họ vào sâu 80 hải lý hải phận Việt nam , cắt cáp thăm dò dầu khí, là việc làm bình thường trong lãnh hải Trung quốc, thì thời gian là chưa đến 2 năm .

Trung quốc đang rất cần dầu hỏa . Trung quốc đang bất chấp tất cả . Trung quốc đang " Biến không thành có " : đang biến không tranh chấp thành có tranh chấp. Đang biến vùng biển Việt nam thành vùng biển Trung quốc. Đang biến không có chủ quyền thành có chủ quyền.

Kế sách này do Quỷ cốc tử truyền dậy, có tên gọi là "Vô trung sinh hữu ": trong không biến thành có .

Trung quốc đã áp dụng một cách thành công kế sách này trong đàm phán biên giới trên bộ với Việt nam . Họ đã có kinh nghiệm trong đấu tranh dành phần lợi cho mình . Quả vậy , ta thấy Ải Mục nam quan , nơi Nguyễn Trãi gạt giọt lệ thương cha Nguyễn Phi Khanh , quay đầu , lấy kế sách đuổi giặc Minh làm "hiếu" , đã nằm trong đất Trung quốc . Thác Bản giốc, một phong cảnh tuyệt đẹp của rừng núi Việt nam, đã mất một nửa với lũ người tham lam này . Cao điểm 1509 Hà giang, năm 1984 còn chứng kiến sự hi sinh anh hùng của hơn 3770 chàng trai Việt, đã trở thành nơi chụp ảnh khoe khoang của bọn lính Trung quốc …

Ngày nay, họ định dựng chuyện hải phận 200 hải lý của Việt nam là của Trung quốc.

Họ định nói nhiều lần thì thế giới phải quen, Hoa kỳ phải quen. Sau đó, khi thơi cơ thuận lợi, sẽ tạo cớ để dùng vũ lực để đè bẹp Việt nam . Nếu Việt nam hèn kém , rệu rạo, không đủ sức chống lại thì vùng biển này sẽ là của Trung quốc . Nếu Việt nam có sức chống lại , nhưng đảng cộng sản Việt nam sợ nhân dân hơn sợ Trung quốc , họ sẽ hối lộ Bộ chính trị ĐCS VN, sẽ đề nghị “chia đôi” , hay “gác chủ quyền , cùng nhau khai thác” .

Đây chính là kế sách “trong không sinh có”, mà Trung quốc đang áp dụng .

Nhưng người việt nam không phải ai ai cũng là những "con cừu" . Thế giới không phải ai ai cũng khờ khạo để Trung quốc qua mặt . Bộ mặt của một anh “hàng xóm to xác nhưng xấu tính “, tham lam, nhỏ mọn, hay dùng mẹo bẩn, tiểu nhân... đã bị cả thế giới vạch trần .

Những sự kiện ngày 26/5/11 và 9/6 /11 đã bộc lộ hết bản chất xấu chơi , bành trướng quyết liệt , bất chấp thủ đoạn của ĐCS Trung quốc .

Đây là cột mốc để ĐCS VN , chính phủ Việt nam từ bỏ hợp tác chiến lược với Trung quốc , từ bỏ đường lối 16 chữ sảo trá , 4 tốt đểu giả , lật lọng , bước một bước mạnh sang cộng đồng các nước dân chủ trên thế giới .

Đây cũng là cột mốc đánh giá sự thất bại của một chính sách cầu hòa , một chính sách ngu muội đặt lợi ích đảng cộng sản việt nam lên trên lợi ích dân tộc Việt nam. Đây là sự xụp đổ của ảo vọng dựa vào các đồng chí Trung quốc , dựa vào tinh thần quốc tế vô sản của đảng cộng sản trung quốc, hòng nắm độc quyền lãnh đạo dân tộc, đất nước Việt nam của đảng cộng sản việt nam .

CÔNG HÀM CỦA THỦ TƯỚNG CỘNG SẢN VIỆT NAM PHẠM VĂN ĐỒNG GỬI THỦ TƯỚNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC CHU ÂN LAI ngày 14 tháng 9 năm 1958.

Đây là lá bài tẩy duy nhất mà Trung quốc có thể dùng để đấu tranh chủ quyền ở Hoàng sa , Trường sa của họ . Cho đến nay , họ chưa công bố được một tài liệu có tính lịch sử nào, có thể chứng minh họ có quyền bàn luận về chủ quyền ở Hoàng sa , Trường sa .

Để bài viết có tính chặt chẽ , tôi xin trích dưới đây 2 văn kiện quan trọng :

1. Tuyên bố cua Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa .

Ngày 4 tháng 9 năm 1958 đại hội uỷ viên thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc hội nghị thứ 100 thông qua quyết định phê chuẩn về tuyên bố lãnh hải của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố:

* Một: Lãnh hải của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc.

2. Trả lời của Thủ tướng Việt nam Phạm Văn Đồng .

Toàn văn :

“Thưa Ðồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Ðồng chí Tổng lý rõ :

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể

Chúng tôi xin kính gởi Ðồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà-Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

Phạm Văn Ðồng (ấn ký)

Thủ tướng Chính phủ

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa

Kính gửi :

Ðồng chí Chu Ân Lai

Tổng lý Quân vụ viện”


Trang mạng BVN ngày 16/06/2011, có đăng bài "Có phải bức công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là lá bài tẩy trong tình hữu nghị Việt-Trung?" tác giả Đinh Kim Phúc đã phân tích chi tiết nội hàm của bức công hàm của Thủ tướng Việt nam gửi Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai .

Ở đây tôi xin đưa ra những lĩnh hội và ý kiến bản thân về bức Công hàm quan trọng này.

1. Công hàm đề ngày 14/9/1958. Trong công hàm của Thủ tướng Việt nam chỉ rõ là "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc."

Bản Tuyên bố của Trung quốc có 2 điểm chính mà ta phải để ý :

(1) Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý.

(2) Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Việc Thủ tướng cộng sản Việt nam tán thành Tuyên bố của chính phủ Trung quốc chỉ là một cử chỉ có tính chính trị mà không có tính pháp luật .

Hòang sa , Trường sa lúc này đang thuộc chủ quyền của Việt nam cộng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm đứng đầu .

Vì thế mà Thủ tướng Việt nam không dám đả động một từ nào về Hoàng sa , Trường sa , ông ta chỉ viết :"Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt biển."

Trung quốc không thể coi đây là sự chấp nhận chủ quyền của Trung quốc tại Hoàng sa , Trường sa được .

Công hàm này chỉ có giá trị khi Việt nam chưa thống nhất . Từ 1975 trở lại đây , chính phủ của nước Việt nam thống nhất chưa hề tuyên bố nhất trí với tuyên bố của Phạm Văn Đồng .

Việt nam dân chủ cộng hòa không thể công nhận cho Trung quốc một điều mà bản thân mình không sở hữu : chủ quyền Hoàng sa , Trường sa đang thuộc về quốc gia khác: Việt nam cộng hòa .

Hơn nữa chủ quyền về Biển và đảo quyết không chỉ do một công hàm của Thủ tướng cộng sản quyết định .

Nó phải được một quốc hội Việt nam đại diện cho toàn dân tộc Việt nam quyết định . Ngay cả quốc hội hiện nay do 90% đảng viên đảng cộng sản Việt nam chiếm giữ, cũng không đại diện cho toàn bộ dân tộc Việt nam .
Người Trung quốc đã thừa biết như thế nào là những hiệp định, hiệp ước bất bình đẳng khi Trung quốc yếu, buộc phải ký với những nước mạnh hơn .

Họ không thể sử dụng công hàm ngày 14/9/1958 làm bằng chứng cho rằng chính phủ nước Việt nam đã công nhận chủ quyền của họ ở Hoàng sa , Trường sa .

Những người dân chủ Việt nam tuyên bố rằng : Toàn bộ quần đảo Hoàng sa là của Việt nam . Trung quốc phải trả lại Hoàng sa cho Việt nam. Trung quốc phải trả lại cho Việt nam những hòn đảo thuộc Trường sa mà họ đã dùng vũ lực đánh chiếm .Không những thế , trên bộ , Nhà nước cộng sản Việt nam đã ký hiệp ước bất bình đẳng với Trung quốc , để cho Trung quốc lấn chiếm Ải Mục Nam quan , thác Bản dốc , cao điểm 1509 Hà giang ...Những điểm bất bình đẳng này phải được xét lại trong tương lai dân chủ của Việt nam .

Kết thúc mục này, tôi đính kèm bản đồ "lưỡi bò trung quốc" .



Bạn đọc có thể thấy , nếu Việt nam đòi thành công Hoàng sa ,. Trường sa, thì đó cũng là lúc mộng bành trướng Biển Đông của người trung quốc tan vỡ . Họ sẽ phải quay trở lại, hài lòng với đường cong có thể sẽ nhiều hơn chín đoạn, chạy song song với bờ biển của họ .

Lúc đó cái lưỡi bò ấy sẽ không còn khuấy động được sóng nước Biển Đông nữa . Lúc đó Biển Đông sẽ lặng sóng bành trướng.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG LÃNH ĐẠO DÂN TỘC CHỐNG LẠI BÀNH TRƯỚNG TRUNG QUỐC .

Trước hết sự yếu kém của ĐCS VN nằm ở chính học thuyết Quốc tế vô sản, một bộ phận của CN Mác -Lênin. Đảng cộng sản Việt nam không lĩnh hội được bản chất của CN quốc tế vô sản là dương ngọn cờ giai cấp, thông qua viện trợ gọi là vô tư “quốc tế vô sản”, mà các nước cộng sản lớn như Trung quốc , Liên xô khống chế , để lệ thuộc các nước đàn em vào phe cánh của mình .

Vì nhận viện trợ của Trung quốc mà Phạm Văn Đồng phải hạ bút ký Hiệp định Genève, 1954 chia cắt lãnh thổ Việt nam . Điều này chỉ có lợi cho Trung quốc : có một nước Việt nam yếu ớt bị chia cắt bên cạnh biên giới mình an toàn hơn một nước Việt nam thống nhất , hùng cường .

Vì viện trợ quốc tế vô sản mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng không dám mếch lòng Trung quốc trong công hàm ngày 14/5/1958. Đây là cớ để Trung quốc thực hiện các mưu kế " vô trung sinh hữu" đối với Hoàng sa , Trường sa .

Vì viện trợ quốc tế vô sản mà năm 1974 , khi Trung quốc đánh chiếm Hoàng sa từ tay Việt nam cộng hòa , chính phủ cộng sản Miền Bắc Việt nam không một lời phản đối .

Vì viên trợ quốc tế vô sản mà 1975 , quân đội Việt nam nhận được lệnh giải phóng các đảo do VNCH cai quản mà không dám động đến các đảo do Trung quốc đã cướp từ tay chính quyền Sài gòn 1974.

Vì viện trợ của Trung quốc bị bọn Việt nam phản bội mà Trung quốc gây chiến tranh biên giới 1979.

Vì tinh thần giai cấp anh em mà 1988 , khi Trung quốc hải chiến chiếm một số đảo tại Trường sa , Việt nam bỏ qua như không phải đảo biển của tổ tiên để lại .

Từ năm 1990 lại đây , ĐCS VN, chính phủ Việt nam đã hoàn toàn bất lực trước các thủ đoạn nham hiểm của Trung quốc . Sau khi bị mê hoặc bởi 16 chữ và 4 điều tốt , Đảng cộng sản Viẹt nam đã tạo điều kiện cho Trung quốc giăng thiên la địa võng trên tổ quốc yêu quí của chúng ta :

1. Trung quốc cho vay tiền, để làm những công trình có hại cho quốc phòng như Thủy điện Sơn la .Trường hợp xẩy ra chiến tranh với Trung quốc như 1979, thì việc dọa phá sập đập thủy điện này là một đòn cân não khủng khiếp. Bởi vì 9,3 tỷ m3 nước sẽ làm ngập lụt đồng bằng Bắc bộ từ 4m đến 60 m. ...

2. Đưa ô nhiễm môi trường vào Việt nam , thí dụ khai thác bôxit Tây nguyên. Những bể bùn đỏ bôxit khi bị vỡ sẽ gây ô nhiễm trầm trọng cho đồng bằng phía dưới Tây nguyên .

3. Đưa người trung quốc vào các địa bàn có tính chất an ninh chiến lược của Việt nam như Tây nguyên , rừng biên giới …

4. Trung quốc tạo các bẫy nợ nần về kinh tế , bẫy kinh tế Việt nam sa vào, như Dự án đường sắt cao tốc …

5. Trung quốc như tằm ăn rỗi , quyết tâm chinh phục Cămpuchia , Lào nhằm bao bọc Việt nam, cô lập Việt nam về mặt chiến lược . Gần đây nhất là chiến tranh Tây -Nam 1978 của Việt nam . Sự hi sinh của các chí nguyện quân Việt nam tại Lào , Cămpuchia đang trở thành vô nghĩa do sự bất tài chính trị của ĐCS VN .

Trung quốc đang dùng chiêu : trên cao thì Mác -Lênin giai cấp , dưới thấp thì bành trướng Đại Hán . Đảng cộng sản Việt nam đã khoanh tay chịu bất lực trước chiêu thức này, như con ếch nhỏ trước con rắn hổ mang hung tợn.

Các vụ ngày 26/5/11 và 9/6/11 vừa qua đã gây xúc động mạnh mẽ trong tình cảm yêu nước của dân tộc Việt nam . Các cuộc xuống đường tự phát ngày 5/6/11 và 12.6/11 đã bị chính phủ Việt nam đàn áp gián tiếp và trực tiếp. Thí dụ như việc bắt các blogers Người buôn gió , mẹ Nấm , Bùi Chát ...trước ngày 5/6/11, hay dùng lực lượng công an mật trấn áp những người tụ tập bột phát trong ngày 12/6/11.

Đây là một bước đi nguy hiểm của chính phủ cộng sản việc nam .

Việc sử dụng lực lượng mật vụ vào đàn áp những người yêu nước phản đối Trung quốc xâm phạm chủ quyền Việt nam là nuôi dường tinh thần sợ Trung quốc , cầu hòa với Trung quốc .

Các lực lượng an ninh này nếu nắm chính quyền, sẽ: ngoài thì thần phục Trung quốc , trong thì tàn sát người Việt nam yêu nước . Đây sẽ là giai đoạn đẫm máu của dân tộc Việt nam .

Đây chính là sự quay trở lại của chế độ diệt chủng Polpot áp dụng tại Việt nam.

Thử hỏi nếu Nhà Trần bức hại những người thích trên cánh tay hai chữ "SÁT THÁT" , thì liệu họ có lập nên trang sử 3 lần chiến thắng Nguyên - Mông không ?

Sợ nhân dân yêu nước , đặt quyền lợi của một nhóm chóp bu cộng sản lên trên quyền lợi dân tộc ,với đạo đức suy đồi , tham nhũng tràn lan khắp các cấp, Đảng cộng sản Việt nam đã không còn khả năng đoàn kết toàn dân tộc Việt nam chống bành trướng Trung quốc .

SỨC MẠNH CỦA TRUNG QUỐC NẰM Ở ĐÂU ?

Hơn 30 năm liên tục tăng trưởng , kinh tế Trung quốc đã đạt tầm cỡ của một nền kinh tế cỡ thứ 2,3 trên thế giới . Thật ra thì không phải đến bây giờ, mà trong quá khứ , kinh tế Trung quốc luôn là một nền kinh tế lớn trên thế giới.

Ta hãy xem sức mạnh của kinh tế trung quốc hiện đại này nằm ở đâu ?

Câu hỏi này , ai quan tâm đến kinh tế đều trả lời được : Nằm ở khâu xuất khẩu hàng hóa . Bối cảnh toàn cầu hóa phát triển mạnh đã vô hình chung giúp Trung quốc phát triển thành công mô hình xuất khẩu này .

Xuất khẩu trung quốc dưa trên :

a. Lao động công nhân rẻ mạt .

b. Nhà nước Trung quốc can thiệp vào trị giá đồng Nhân dân tệ, giữ cho nó có giá trị hối đoái thấp, làm đòn bẩy cho xuất khẩu .

Sự can thiệp này là trái với qui luật vận động tự nhiên của nền kinh tế,của đồng tiền. Khi kinh tế phát triển, xã hội sản xuất ra nhiều hàng hóa hơn thì kèm theo hiện tượng này là giá trị đồng tiền cũng tăng . Đây là tự nhiên , là bình thường.

Chính phủ Trung quốc đã cố tình giữ giá trị đồng tiền của mình ở mức thấp giả tạo, hòng kích hoạt sự tăng cường của xuất khẩu . Đây là sự cướp thành quả lao động của hàng trăm triệu lao động trung quốc . Chính phủ trung quốc biến sức lao động của người dân trung quốc thành hàng hóa giá rẻ , xuất khẩu , đưa đô la về làm dự trữ chiến lược , phục vụ bành trướng .

Câu hỏi đặt ra là : Việc hàng trăm triệu lao động trung quốc lao động kiệt sức mà không được hưởng thành quả của mình, có dẫn đến bất bình trong xã hội trung quốc, làm đảo lộn các kế hoạch bành trướng của Trung quốc hay không ?

Nói cách khác thì giới hạn sự nhẫn nhục chịu thiệt thòi của lao động trung quốc nằm ở mức độ nào ? Khi nào thì sự bất bình của lao động trung quốc sẽ trở thành một cuộc cách mạng ?

Trả lời câu hỏi này, ta phải trở lại lịch sử Trung quốc . Các chế độ phong kiến Trung quốc đều dùng hình phạt thảm khốc để duy trì chữ "sợ" mà thống trị dân chúng .Như chu di cửu tộc ...Chính phủ cộng sản Trung quốc cũng không ngoại lệ . Vụ đói nhân tạo do các chính sách sai lầm của Mao về kinh tế đã làm gần 40 triệu người trung quốc chết đói từ 1953-1957. Sau đó là tem phiếu với khẩu phần dành cho súc vật. Rồi sáo trôn xã hội trong Cách mạng văn hóa vô sản. Rồi xe tăng tiến vào Thiên an môn 6/1989.

Tất cả các sự kiện này đã đè đầu người lao động trung quốc xuống hàng nô lê hiện đại bởi chữ "sợ". Họ thần phục các ý chỉ của Đảng cộng sản Trung quốc .

Cũng còn một lý do quan trọng nữa là các lãnh đạo cao cấp nhất của Trung quốc còn trong sạch . Tham nhũng chưa đến gần được họ .

Việc đảng trị tất nhiên sẽ đưa đến tham nhũng đại trà . Khi tham nhũng là đa số thì cũng là lúc:

Thượng bất chính thì hạ tắc loạn , như Việt nam hiện nay.

Ngày ấy không xa đâu . Là con người , mức chịu đựng cám dũ của đồng tiền ,của phái nữ ...là có giới hạn .

Hàng trăm vị vua của Trung quốc , có bao nhiêu minh quân ?

Ngày ấy sẽ đến và Trung quốc sẽ rơi vào rối loạn .

Lúc này là lúc Việt nam phải thu lại Hoàng sa , Trường sa về Tổ quốc .

TÌNH HÌNH HIỆN TẠI VÀ ĐỐI PHÓ VỚI BÀNH TRƯỚNG TRUNG QUỐC .

Các vụ vào sâu lãnh hải Việt nam, cắt cáp của các tầu thăm dò dầu khí ngày 26/5 /11 ngày 9/6/11 là những màn kịch mà Trung quốc cố tình diễn :

1. Để thử phản ứng của chính phủ Việt nam , nhân dân Việt nam .

2. Để thử phản ứng của công luận Asean, thế giới , của Hoa kỳ .

3. Để chuẩn bị dư luận cho hơn 1300 triệu người dân Trung quốc hình ảnh Việt nam xâm phạm chủ quyền lãnh hải Trung quốc .

Sau khi có được kết quả phép thử , họ sẽ điều chỉnh kế hoạch lấn chiếm Biển Đông thích hợp hơn với tình huống hiện tại .

Việt nam phải làm gì trong tình huống này ?

Trước hết , ta bình tâm xét các sự kiện lịch sử liên quan đến dân tộc Việt nam thời cận đại .

+ Cuộc chiến tranh với Pháp , một nước mạnh hơn Việt nam .

+ Cuộc chiến tranh với Hoa kỳ , một nước mạnh gấp bội Việt nam

+ Cuộc chiến tranh tây- nam, Việt nam đưa quân sang Cămpuchia .

+ Cuộc chiến tranh biên giới với Trung quốc, một nước mạnh hơn Việt nam .

Truyền thông Trung quốc đang dựa vào dư âm những sự kiện trên để mô tả với thế giới , với nhân dân trung quốc hình ảnh hiếu chiến , tiểu bá của Việt nam . Họ mô tả Trung quốc như một nạn nhân của Việt nam hiếu chiến .Chính phủ Trung quốc mới đây tuyên bố không dùng vũ lực trong tranh chấp Biển Đông là nhằm mục đích này .Họ không thể không dùng bạo lực, khi bạo lực là con át chủ bài của Trung quốc . Có thể họ sẽ lừa chiêu , cài bẫy để Việt nam trúng kế.

Việt nam không nên rơi vào bẫy này .

Làm cho nhân dân trung quốc hiểu được thực chất sự bá quyền của Trung quốc trong tranh chấp Biển Đông là nhiệm vụ quan trọng của ngoại giao Việt nam .

Để làm việc này , Bộ ngoại giao VN cần ban hành ngay sách trắng về Hoàng sa , Trường sa . Các trang mạng về Hoàng sa , Trường sa cần có thêm tiếng trung quốc .

Trong tương lai gần , Trung quốc sẽ thường xuyên khiêu khích Việt nam như các vụ ngày 26/5/11 và 9/6/11 vừa qua .

Khi xẩy ra các vụ như vậy , cần cho phép nhân dân việt nam biểu tình tự phát . Các cuộc biểu tình này sẽ tăng cường quyết tâm chống ngoại xâm của dân tộc Việt nam . Việc đàn áp các cuộc biểu tình như vậy chỉ vạch cho Trung quốc biết chính phủ Việt nam sợ nhân dân Việt nam , không có hậu thuẫn ở nhân dân . Trung quốc sẽ lấn tới mạnh hơn .

Khi xẩy ra các vụ xâm phạm hiển nhiên chủ quyền lãnh thổ , lãnh hải Việt nam, chính phủ Việt nam phải bảo vệ được chủ quyền ấy bằng mọi phương tiện và lòng quyết tâm .

Chống bành trướng Trung quốc là thách thức tồn tại hay không tồn tại của dân tộc Việt nam . Việc chống bành trướng phải do một chính phủ được nhân dân việt nam tin tưởng , giao cho trọng trách nặng nề này .

Chúng ta đã chờ đợi sự cải cách của Đảng cộng sản Việt nam hơn 20 năm nay kể từ khi Liên-xô xụp đổ .

Chúng ta đã góp ý cho Đại hội 11 của Đảng cộng sản Việt nam về đa nguyên, dân chủ với tâm huyết nồng nàn của những người yêu nước .

Nhưng họ đã bỏ ngoài tai, khăng khăng độc quyền lãnh đạo .

Một chính đảng chỉ là một câu lạc bộ của một nhóm người .

Tổ quốc là không gian sinh tồn , văn hóa , tập tục của nhiều dân tộc sinh sống trên mảnh đất ấy .

Quyền lợi của đảng phái phải đặt dưới sự sinh tồn của tổ quốc .

Đây là giờ phút quyết định của Đảng cộng sản Việt nam .

Đây là giờ phút quyết định của dân tộc Việt nam .

Nguyễn Nghĩa 650

http://danlambaovn.blogspot.com/2011/06/bao-gio-thi-bien-ong-lang-song-banh.html

Lý Quang Diệu “hiến kế” ổn định Biển Đông

Yoichi Kato - Tờ Asahi Shimbun đã có buổi phỏng vấn độc quyền với ông Lý Quang Diệu – vị Bộ trưởng Cố vấn mới đây đã nghỉ hưu của Singapore. Bài phỏng vấn xoay quanh các vấn đề về thảm họa ở Nhật, sự trỗi dậy của Trung Quốc, cách kiềm chế Trung Quốc, quan hệ Nhật-Mỹ và Singapore-Mỹ, vấn đề tranh chấp ở biển Đông.

Với ông Lý Quang Diệu, mặc dù ông đã lạc quan rằng, Nhật Bản sẽ trỗi dậy từ những thách thức tái thiết hiện nay, nhưng ông tin là các tác động tiêu cực với nền kinh tế sẽ kéo dài vài năm hay thậm chí lâu hơn nữa.

Với Singapore, khi đối mặt với thực tế chiến lược trỗi dậy của một Trung Quốc đang gia tăng và một Nhật Bản yếu đi, dường như họ đang theo đuổi một chính sách thắt chặt quan hệ quốc phòng với Mỹ.

Ông Lý hoàn toàn tán thành chọn lựa này, và nhấn mạnh: "Singapore và Mỹ cùng chia sẽ niềm tin rằng, một sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ trong khu vực sẽ tăng cường hòa bình và ổn định".

Cùng lúc đó, ông dự báo: "Sẽ có những thay đổi quan trọng trong cân bằng quyền lực vào 10 năm tới với sự trỗi dậy của Trung Quốc".

Và sau đây là những câu trả lời của ông Lý Quang Diệu qua văn bản.

- Ông cho rằng Nhật Bản sẽ nổi lên trong giai đoạn của những thách thức to lớn này là mạnh hơn hay yếu đi?

Mạnh hơn về sự đoàn kết con người nhưng yếu đi về kinh tế.

- Trong cuốn sách mới của mình, ông chỉ ra rằng, Nhật Bản đã đối mặt với những thách thức lớn như dân số sụt giảm và sự già hóa dân số. Thảm họa 11/3 dường như làm gia tăng thách thức ấy. Ông thấy tác động 11/3 thế nào với tương lai của Nhật?

Tương lai của Nhật Bản là một nền kinh tế yếu hơn trong vài năm. Những năm suy giảm có thể tiếp tục trừ phi Nhật Bản gia tăng dân số bằng nhập cư hay tăng tỉ lệ sinh.

- Những thay đổi của Nhật sẽ tác động gì tới địa chính trị khu vực?

Nhật Bản là một nền kinh tế lớn thứ hai khu vực. Bất kể sự sụt giảm nào cũng tác động tới toàn bộ đối tác kinh tế trong khu vực.

- Những gì chúng ta nên xem xét khi nhìn vào các tranh cãi gần đây ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước khác như Việt Nam và Philippines về mặt chiến lược khu vực và tham vọng của Trung Quốc?

Trung Quốc đã đề xuất giải quyết tranh chấp bằng con đường song phương. Tất cả các bên tranh chấp khác đều nhỏ hơn nhiều so với Trung Quốc.

- Tại Đối thoại Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đã tuyên bố kế hoạch của Mỹ trong việc triển khai các tàu tuần duyên mới (LCS) đến Singapore. Singapore đã ký Thỏa thuận Khung Chiến lược (SFA) với Mỹ. Ông cho rằng Singapore cần làm nhiều hơn để tăng cường hợp tác quốc phòng với Mỹ?

Singapore sẽ cố gắng đáp ứng nhu cầu của Mỹ. Singapore và Mỹ chia sẻ một sự tin tưởng rằng, sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ trong khu vực sẽ góp phần tăng cường ổn định và hòa bình khu vực, đồng thời cam kết tăng cường hơn nữa hợp tác quốc phòng song phương theo tinh thần và tầm nhìn của SFA năm 2005.

- Tuyên bố triển khai các tàu tuần duyên mới của bộ trưởng Gates cho thấy, Mỹ tin rằng, họ nhất định cần tăng cường sự hiện diện và tham gia của mình tại Đông Nam Á để cân bằng với ảnh hưởng đang trỗi dậy của Trung Quốc. Ông đánh giá thế nào về chiến lược cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương?

Để cân bằng với một cường quốc lớn như Trung Quốc, Mỹ cần hợp tác với Nhật và hợp tác với các quốc gia ASEAN.

- Qua Đối thoại Shangri-La, Singapore góp phần thế nào để đảm bảo an ninh trong khu vực?

Singapore là địa điểm để thảo luận về những vấn đề an ninh nhạy cảm hữu ích cho tất cả các bên liên quan. Chúng tôi cung cấp một nơi gặp gỡ trung lập mà không có sự thiên vị với bất kỳ bên nào.

- Năm nay là tròn 10 năm Đối thoại Shangri-La, và Trung Quốc cuối cùng đã quyết định cử bộ trưởng quốc phòng tham dự?

Trung Quốc ban đầu đã nghi ngờ về giá trị trao đổi thảo luận, có lẽ sẽ là mục tiêu của các câu hỏi đến từ những thành viên khác tham gia Đối thoại. Nhưng giờ đây, họ quyết định cử bộ trưởng quốc phòng tham dự. Họ cần phải tin đây là nơi hữu ích cho đối thoại, cho trao đổi các quan điểm dẫn tới việc xây dựng lòng tin.

- Gần đây, một khuôn khổ địa chiến lược mới "Ấn Độ - Thái Bình Dương" đã trở nên phổ biến với các chuyên gia chính sách. Ông có cho rằng nó có thể hữu ích hơn "châu Á - Thái Bình Dương" trong việc giải quyết các thách thức an ninh và kinh tế mà các quốc gia trong khu vực đối mặt?

Ấn Độ có thể ổn định Ấn Độ Dương. Tôi không chắc là hải quân của họ có mở rộng tầm với hiệu quả tới Thái Bình Dương.

- Ấn Độ gần đây đã rất tích cực trong việc thể hiện sự hiện diện ở Thái Bình Dương. Ông có cho rằng điều này có ích với an ninh khu vực?

Đúng, nó có lợi cho hòa bình và ổn định.

- Mặc dù có rất nhiều nỗ lực từ các nước ASEAN, nhưng tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông dường như vẫn chưa tiến tới một giải pháp hòa bình. Những vụ việc gần đây xảy ra càng cho thấy tình hình bất ổn vẫn còn. Vậy các bên tuyên bố chủ quyền và những cường quốc chính trong khu vực có thể/nên làm gì để giải quyết vấn đề này?

Giải quyết vấn đề phù hợp với Tòa án Quốc tế về Luật biển (ITLOS).

- Ông đã đề cập tới tầm quan trọng của việc giữ cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc với ổn định khu vực. Những nước khác trong khu vực gồm cả Nhật Bản và Singapore có thế và nên làm gì để đạt mục tiêu này?

Nhật Bản có thể là đối tác của Mỹ cho hòa bình và ổn định. Singapore có thể đóng một vai trò nhỏ hơn như một hòn đảo, nơi Mỹ có thể chuẩn bị đạn dược và các thiết bị quân sự khác.

- Ông nghĩ thế nào về "chiến lược hóa học" giữa Mỹ và Trung Quốc, đặc biệt khi Trung Quốc ngày càng trở nên tự tin khi sức mạnh quốc gia gia tăng? Ông có nghĩ một hệ thống lưỡng cực có thể bền vững và thiết thực?

Chúng ta cần chờ đợi và chứng kiến mối quan hệ ấy phát triển thế nào. Có nhiều lợi ích khi Trung Quốc hợp tác với Mỹ. Trung Quốc cần thị trường, công nghệ và bí quyết Mỹ để phát triển.

- Năm 2012 - 2013 sẽ là thời điểm nhiều nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương sẽ có thể tiến hành thay đổi lãnh đạo. Ví dụ như Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc...Có một số dự đoán về bất ổn trong khu vực. Vậy quan điểm của ông thế nào, và ông nghĩ sao để có thể ngăn ngừa tác động tiêu cực với khu vực?

Tôi không cho rằng thay đổi lãnh đạo là bất ổn. Sẽ có những thay đổi quan trọng trong cán cân quyền lực vào 10 năm tới với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Thụy Phương (Theo asahi)
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-20-ly-quang-dieu-hien-ke-on-dinh-bien-dong

Wednesday, April 27, 2011

Loài Hoa “Vủ” đang nở trên đất nước Việt Nam !

Hôm nay, khi đọc bài “Đơn Tự thú của sinh viên Nguyễn Anh Tuấn” lòng tôi đã tràng ngập lại niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho nước Việt Nam. Tôi cảm giác như thấy trong cái vũng bùn lấy ô nhục của cái chế độ XHCN, loài hoa “Vủ” ở Việt Nam đã bắt đầu trổ nhánh và kết nhụy sau ngày 4-4-2011. “Anh Tuấn” là đóa hoa đầu tiên (chưa đầy 21 tuổi) đã khoe sắc vì không còn bị không khí sợ hài và môi trường hèn nhát, thờ ơ, thối nát luôn hiện hữu dưới cái chế độ XHCN chi phối và kèm hảm nửa!
Tôi rất phục trí tuệ và long dùng càm của anh “Nguyễn Anh Tuấn” vì những gì anh nói rất chính xác, có tình lý , hợp pháp và rất thuyết phục. Nếu tất những người Việt Nam yêu nước, từ các nhà lảo thành cách mạng, đảng viên có công lao trời biển với cái chế độ này đền tầng lớp tuổi trẽ đều có cùng mục đích là vì “một Việt Nam tốt đẹp hơn” và có hành động dấn thân, ôn hòa nhưng dứt khoát và cương quyết thì chế độ này không đủ quan tòa và điều kiện để xét xử và thi hàng triệu, chục triệu bản án.
Hởi những người yêu nước Việt Nam, không phân biệt đảng phái, chính kiến, tôn giáo, đoàn thể, địa phương, tuổi tác, … chúng ta cùng dấn thân để đầu tranh để buộc cái chế độ độc đảng bất công hiện nay phải xem xét lại, đặt vận mạng và tương lai của toàn dân tộc Việt Nam gần 90 triệu người lên trên quyền lợi của một thiểu số đảng viên cao cấp trong ĐCSVN.
Chúng ta, những người yêu nước thật sự, không thể tiếp tục thỏa hiệp với nỗi sợ hãi mà hãy cùng dấn thân và làm như Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố :
“Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng thì dân chúng phải đập đổ chính phủ ấy đi và gây nên chính phủ khác” …(Hồ Chí Minh, Toàn Tập, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995; T.2; tr. 270).
Mổi người với một lá đơn “tự thú và yêu cầu được tự khởi tố” đồng thời yêu cầu ĐCSVN tổ chức trưng cầu dân ý của gần 90 triệu người dân để quyết định cho vấn đề “đa nguyên, đa đảng” Việt Nam. Chúng ta chiếm đa số, không thể đê cho một tên Đinh Thế Huynh, chỉ đại diện cho một nhóm lợi ích (thiểu số) đang nắm quyền lực trong tay, tự tiện và một cách bất hợp pháp quyết thay vận mệnh và tiền đồ của hơn 80 triệu người dân Việt.
Bằng cách trên, tất cả các “Tay Phán” của chế XHCN trước khi tuyên bố được cáo trạng các bản án “ô nhục” sẽ bị chết ngọp trong biển đơn của những người Việt Nam yêu nước.
Sau hơn 35 năm độc quyền lãnh đạo đất nước, về mặt chính sách đối nội, một chính quyền tự cho là “của dân, do dân, vì dân” đã xây dựng một hệ thống pháp luật đầy mâu thuẫn và nghịch lý với mục đích dùng làm công cụ hợp pháp để trắng trợn cướp bốc và đàn áp dân lành.
Hơn 80 triệu Việt Nam, chúng ta hãy dũng cảm bày tỏ quan điểm chính đáng và yêu cầu hợp pháp của mình: Chúng ta cần có một chính nghĩa yêu nước thật sự chứ không cần bất kỳ chủ nghĩa ngoại lai nào để phải Chết Nhát, Chết Nghèo, Chết Nhục ngàn năm!
Hoàng Diệu

Tuesday, April 5, 2011

4-4-2011: Tòa Án Nhân Dân hay là Toà Án ĐCS Việt Nam?


Hôm nay, có lẽ cá nhân chúng tôi không phải là người Việt Nam duy nhất cảm thấy nhục nhả và ê chề khi được biết tên tay sai không có tư cách làm thẩm phán Nguyễn Hữu Chính “khạc” ra một quyết định khi không cần “thẩm” mà đã “phán” một bản án bất công là 7 năm tù giam 3 năm quản chế cho QUYỀN YÊU NƯỚC của Tiến Sỹ luật Cù Huy Hà Vũ. 

Dưới chế độ XHCN, siêu việt hơn các nước pháp quyền khác trên thế giới, "Tay Phán” Nguyển Hữu Chính đã không cần công bố mà cũng chẳng them xem xét các chứng cứ dùng để buộc tội khi được 4 vị LS bào chửa yêu cầu.
Hơn thế nửa, vì tất cả thành viên của HĐXX lẫn đại diện VKS đều là đảng viên ĐCSVN, nên qua phiên toà này những người lảnh đạo chính quyền này đã trực tiếp và công khai tuyên bố với hơn 86 triệu người dân Việt Nam và cả thế giới biệt rỏ rằng: Dưới chế độ XHCN mà hơn 86 triệu người dân Việt Nam đang sống không có “Toà Án Nhân Dân” Việt Nam mà chỉ có “Toà Án  ĐCS” Việt Nam!
“Đây là một bản án trái pháp luât” như LS Nguyễn Thị Dương Hà, vợ luật sư Cù Huy Hà Vũ đã phát biểu. Ý kiến này đả được LS Trần Lâm chia sẻ khi và LS Trân Lâm đã yêu cầu Toà Án Nhân Dân Tối Cao hủy bản án trái pháp luật này.

Qua bản án này, LS CHHV đã bất chiến mà tự nhiên thành khi đã buộc chính quyền dốt nát mà lạm quyền này tự phơi bày bộ mặt thật của chế độ này là:

- Hiến Pháp đối với ĐCSVN chỉ là một công cụ dùng để bảo vệ cái chế độ XHCN để phục vụ cho ĐCSVN  
- Nhà nước này là một nhà nước “Đảng Quyền” chứ không phải là một nhà nước “Pháp Quyền” như ĐCSVN tuyên truyền
- Tất cả các vụ án dưới chế độ XHCN nếu muốn, Toà Án ĐCS Việt Nam chỉ cần “phán” mà không cần “thẩm” 
- Các tay “Phán” chỉ là các tay sai của ĐCSVN được phân công “khạc” ra các bản án do ĐCSVN quyết định trước.
- Tam Quyền Phân Lập (Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp) là không thể tưởng dưới chế độ XHCN, vì nó là khắc tinh của chế độ Độc Đảng, Độc Quyền  
- Cuộc bầu cử “Quốc Hội” tháng 5, 2011 sắp tới trong chế độ XHCN này chỉ là một tên gọi tráo trở. Thay vào đó phải gọi đó là “Đảng Hội” mới chính xác; vì đại đa số (nếu không nói là tất cả) các vị Đại Biểu trong cái Hội này là Đảng Viên ĐCSVN, cho nên phải gọi các vị này là Đại Biểu ĐCSVN mới chính xác, chứ nếu gọi là Đại Biểu Nhân Dân thì chỉ là một trò bịp vĩ đại để lừa hơn 86 triệu người Việt Nam. 

Qua bản án này, cá nhân chúng tôi cảm thấy rất phẩn uất vì ĐCSVN đang cầm quyền đã bị một thiểu số lạm quyền trong ĐCSVN cướp lấy danh nghĩa là Toà Án của Nhân Dân để phán một bản án không chính nghĩa và cực bất công cho một công dân yêu nước là Tiến Sỹ luật Cù Huy Hà Vũ.

Chính bọn lảnh đạo ĐCSVN là bọn phản động đối với dân tộc và Tổ Quốc Việt Nam! 
Toàn Dân Việt Nam, hãy hưỡng ứng và thực hiện lời nhấn bất khuất của Tiến Sỹ luật Cù Huy Hà Vũ,: ‘Lịch sử, tổ quốc và nhân dân Việt Nam sẽ phá án cho tôi, công dân Cù Huy Hà Vũ!’

Vì tương lai của thế hệ hôm nay và mai sau, Tuổi Trẻ Yêu Nước Việt Nam chúng ta không chấp nhận làm ngơ nửa!

Hoàng Diệu

Saturday, April 2, 2011

Ngày (V) 4-4-2011, Ai “Phản Tỉnh”, Ai “Phản Động”?


Chưa bao giờ số người Việt Nam trong nước truy cập báo, blog “lề trái” hay “ngoài quốc doanh” trong thời gian gần đây lại tăng nhanh chóng đến mức phấn khởi.  Đây là một dấu hiệu đáng mừng và là tia hy vọng mới cho dân tộc Việt Nam sau hơn 1/3 thế kỹ bị ru ngũ trong mê hồn trận XHCN.
Vụ án xét xử LS CHHV đả làm cho dân Việt Nam ‘phản tỉnh’ và phân biệt được sự khác biệt giữa tư tưởng và hành động  mang tính chất “Chính Nghĩa” cho hơn 86 triệu người dân Việt Nam với cái gọi là “Chủ Nghĩa” do một thiểu số nắm quyền lực trong tay áp đặt.
Dân tộc Việt Nam, với những gì khoa học và công nghệ thông tin cho phép đã đột xuất thấy, đọc , nghe và hiểu được những gì ĐCSVN đã tuyên truyền trong bao nhiêu năm đều là giả dối và  ngụy tạo cả.

- ĐCSVN đã rao hơn 30 năm trời là Việt Nam là một nước “Độc Lập” nhưng thực tế đã điều đình và chấp nhận đem tổ quốc biến thành khu tự trị của ngoại ban
- ĐCSVN tuyên truyền rằng nhà nước chúng xây dựng là nhà nước  “pháp quyền” nhưng thực tế chúng tự đặt đảng cướp của chúng trên cả hiến pháp qua Điều 4, nhằm củng cố chế độ vi hiến vi luật do ĐCSVN thao túng
- ĐCSVN đã kêu người dân Việt Nam phải yêu nước nhưng chúng lại khủng bố, đàn áp và bắt giam và  những nhà yêu nước thật sự Việt Nam
- ĐCSVN đã đề cao “Tự Do” trong quốc hiệu nhưng chúng giam lỏng cả một dân tộc hơn 86 triệu người trong một địa ngục trần gian
- ĐCSVN đã hứa đem hạnh phúc cho dân Việt nhưng chúng đã gây ra muôn vạn điều bất hạnh cho cả dân tộc
- ĐCSVN kêu gào “chống tham nhũng” nhưng thực tế đang tạo điều kiện cho Đảng Viên có quyền lực và gia đình thân vơ vét hợp pháp và công khai tài sản của cả dân tộc Việt Nam
- ĐCSVN với danh nghĩa là người “Cộng Sản” nhưng với tất cả những gì chúng tham ô, chiếm đoạt  và cướp bốc được chính bọn chúng trở thành những “Đại Tư Sản” ác ôn nhất
- ĐCSVN từng cho rằng “đất là sở hữu của toàn dân” nhưng thực tế với quyền lực chúng nắm trong tay và với các mánh khoé “qui hoach” và “giải tỏa” chúng đã tư hữu hóa cho đảng viên và gia đình thân thuộc của chúng tạo ra muôn ngàn vụ kêu oan về nhà đất của trên toàn đất nước Việt Nam
- ĐCSVN từng rêu rao rằng chúng là đại diện cho giai cấp “Công Nhân” và bảo vệ quyền lợi của giai cấp này nhưng chính thực chúng tiếp tay cho tư bản nước ngoài bốc lột công nhân, và chúng biến Công Nhân thành “nô lệ” để “xuất khẩu” ra nước ngoài để duy trì chế độ bán nước hại dân này
- ĐCSVN cứ kêu gào là vì “lợi ích tram năm trồng người” nhưng thực tế thì chúng đã ngu muội hóa 3 thế hệ của dân tộc sau ngày đất nước thống nhất trong khi chỉ con cháu các đảng viên có quyền lực ra du học chi phí tiền tỉ ở nước ngoài.
Từ vài dẩn chứng trên, toàn dân Việt Nam có thể thấy rằng chính ĐCSVN có chính sách, tư tưởng và hành động chống lại công lý, trào lưu tiến bộ của xã hội và văn hoá của hơn 86 triệu người Việt Nam.
Chính bọn lảnh đạo và đảng viên ĐCSVN là bọn phản động đối với dân tộc và Tổ Quốc Việt Nam.
Hởi Toàn Dân Việt Nam, hãy phản tĩnh và lấy ngày 4-4-2011 để giải tán cái đảng phản động CSVN !
Toàn Dân Việt Nam, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, đoàn thể, địa phương, tuổi tác, … chúng ta đầu tranh với chế độ bất công hiện nay và lấy ngày 4-4-11 làm ngày khai tử Điều 4 và giải tán ĐCSVN!
Tuổi Trẻ Yêu Nước Việt Nam chúng ta không chấp nhận làm nô lệ nửa!
Không thể nào làm nô lệ và chấp nhận sống mãi dưới cái CHXHCN Việt Nam Muôn Năm!

Wednesday, March 23, 2011

Chân Lý trong Điều Lệ ĐCSVN ?

Có lẽ không ít người dân Việt Nam đã nhiều lần suy nghĩ để tìm ra câu trã lời cho câu hỏi: Tại sao đa số đảng viên ĐCSVN (Đảng Cướp Sạch Việt Nam) đều giàu sụ trong khi hơn 85 triệu dân Việt Nam thì lại phải sống lay lất từng ngày?

Sau một thời gian suy nghĩ mong lung và mù tịt, chúng tôi nghĩ rằng đã tìm ra câu trã lời khi tìm hiểu và xem xét sâu sắc trong điều lệ của ĐCSVN vì trong điều lệ có các nguyên tắc, cách tổ chức, nhiệm vụ, hoạt động của nó.

Dưới đây là Điều lệ ĐCSVN, nó là chân lý cho câu hỏi mà rất nhiều người Việt Nam hỏi và tự hỏi mà không bao giờ được trã lời. Mời đọc giả Việt Nam cùng chia sẽ và bổ sung thêm cho phong phú, chính xác và hoàn chỉnh.


Hoàng Diệu


Điều Lệ ĐCSVN
(Đảng Cướp Sạch Việt Nam)

Chương I

Đảng viên

Điều 1. Những công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, am hiểu về bóc lột, trải qua rèn luyện trong tra tấn quần chúng, chỉ trung thành với Đảng, và thậm chí nếu được Đảng chỉ thị thì có thể bán cả Tổ quốc Việt Nam đều được kết nạp làm đảng viên ĐCSVN.

Điều 2. Đảng viên có các nhiệm vụ như sau:

1. Suốt đời phải học tập cách đàn áp dân lành, và biết phương pháp tham nhũng và bao che các đảng viên khác khi bị dân chúng phát hiện.

Phải tích cực đấu tranh để thực hiện nhiệm vụ làm cho xã hội và người dân Việt Nam ngày càng ngu muội và nghèo đói để Đảng dể sai bảo và cai trị. Ra sức góp phần xây dựng lực lượng công an để đàn áp dân lành, hầu giữ gìn an ninh chính trị và quyền lợi của Đảng.

Phải phấn đấu với nhiệt tình cách mạng và mù quán thực hiện đường lối, chính sách, các nghị quyết của Đảng và mọi nhiệm vụ Đảng giao cho, góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp đàn áp những người Việt Nam bất đồng chính kiến.

Phải khát máu trong công tác và khi cần đàn áp dân lành nào dám khiếu kiện về nhà đất; phải có thái độ không khoan nhượng khi tham ô để nhanh chóng tích tụ và bảo vệ tài sản của các Đảng viên khác.

2. Không ngừng học tập và rèn luyện để nâng cao nghiệp vụ vu cáo và kết tội những người Việt Nam nào không cùng quan điểm và chính kiến với Đảng.

Mỗi đảng viên phải ra sức học tập đường lối, chính sách của Đảng; không ngừng nâng cao năng lực tổ chức tham ô tài công sản cướp bốc của quận chúng để biến thành tư sản của Đảng viên và cho gia đình thân thuộc của đảng viên.

3. Luôn luôn theo dõi quần chúng, phát huy quyền làm chủ đảng viên, hết lòng hà hiếp và hết sức bốc lột dân chúng, đặt lợi ích của Đảng, và đảng viên lên trên cả lợi ích của tổ quốc và nhân dân.

Đảng viên phải tôn trọng và phát huy quyền chủ của đảng viên, theo dõi sinh hoạt của quần chúng để phản ánh cho Đảng để kịp thời đàn áp một cách thích đáng.

4. Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng

Mọi đảng viên sau khi tham ô được, phải đều đặn tham gia đóng góp tiền bạc đã tham ô được cho Đảng. Tích cực góp phần xây dựng và phát triển chính sách, chủ trương dùng bạo lực của Đảng.

Phải chấp hành mù quán và không điều kiện các nghị quyết và sự phân công của Đảng.

Phải tìm những người thật giang ác để bồi dưỡng tư tưởng, và giới thiệu để chi bộ giúp đỡ và xét việc kết nạp vào Đảng.

Phải thường xuỵên bắt dân chúng tự phê bình và kiểm điểm, kiên quyết đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành động có hại đến lợi ích của Đảng.

Phải tuyệt đối bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối, chính sách, và bí mật của Đảng và tìm đủ mọi cách để bắt giam ngay những người có chính kiến khác với Đảng.

Phải trung thực với Đảng, nhưng luôn phải giấu giếm, và báo cáo sai sự thật cho quần chúng hầu để dể điều hành và cai trị.

5. Thực hiện chính sách “quần chúng vô sản”, và tích cực góp phần chuyển tiền vào tài khoản quốc tế của đảng viên.

Đảng viên phải thường xuyên tham ô, phải thực hiện chính sách quần chúng vô sản, và thường xuyên chuyển các khoản tiền tham ô vào các tài khoản nước ngoài của mình hoặc gia đình thân thuộc của mình đứng tên.


Điều 3. Đảng viên chính thức có quyền:

1. Tham ô một cách công khai vì có Đảng đứng ra bảo vệ và giải quyết khi có khó khăn, hoặc khi bị dân chúng phát hiện.

2. Đề cử những người giang manh và ác ôn vào các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

3. Bắt bất kỳ người dân nào góp ý, khiếu nại hoặc tố cáo để chất vấn, tra tấn và xét xữ bằng mọi cách nếu xét thấy cần.

4. Đối với các nghị quyết của Đảng, phải chấp hành mù quán và không điều kiện dù có hại cho dân tộc và tổ quốc.

5. Được đưa những người bất đồng quan điểm để Đảng quyết định xét xữ không cần qua ra tòa vì trên danh nghĩa Viêt Nam là một nước Pháp Trị, nhưng thực tế lại là Đảng Trị.

Điều 4. - Việc kết nạp người vào Đảng phải tiến hành từng người một theo đúng tiêu chuẩn sau sau đây: Người xin vào Đảng phải có tính giang xảo, ác ôn, tham lam, vô học vì tất cả mọi đảng viên đều có đặc tính cách tương tự như vậy.


Điều 5. - Về thời kỳ dự bị quy định như sau:

Thời gian: một năm đối với những người ác ôn, giang xải biết lòn cuối và lo lót. Trong thời kỳ dự bị, chi bộ cần tiếp tục rèn luyện, thử thách nhân tính ác ôn và giang manh để đảng viên dự bị có đủ điều kiện được công nhận là đảng viên chính thức. Người đảng viên dự bị phải được bồi dưỡng thêm những phương pháp khống chế và hà hiếp dân lành và chiếm đoạt tài sản của quần chúng để thực hiện tốt các chủ trương đàn áp và cướp bốc của Đảng.

Điều 6. - Khi hết thời kỳ dự bị, người đảng viên dự bị phải chứng minh được mình là tay sai khát máu và đắc lực của chi bộ.
  
 Điều 7. - Việc phát và thu hồi thẻ đảng, quản lý giấy tờ về Đảng của đảng viên do Ban Chấp hành Trung ương quy định. Đảng viên chuyển đi nơi khác phải đút lót và nộp tiền tham ô cho cấp uỷ đảng theo đúng thủ tục do Ban Chấp hành Trung  ương quy định.

Điều 8. - Nếu đảng viên không tham nhũng và cướp đủ tiền của dân thì tổ chức Đảng cần kịp thời giáo dục, hoặc thi hành kỷ luật của Đảng. Đối với những người xét không đủ ác ôn và khả năng hà hiếp dân lành thì phải kịp thời đưa ra khỏi Đảng theo đúng các thủ tục của Đảng.

Điều 9. - Đảng viên nào bỏ sinh hoạt Đảng hoặc không đóng tiền tham ô được cho các đảng viên cấp trên trong ba tháng liền mà không có lý do chính đáng thì chi bộ quyết định xoá tên trong danh sách đảng viên và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến cấp chuẩn y kết nạp đảng viên để kiểm tra lại.

Chương II

Nguyên tắc tập trung dân chủ và hệ thống tổ chức của Đảng

Điều 10. – ĐCSVN tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, để không cần phải chịu trách nhiệm trước nhân dân Việt Nam. Những điều căn bản của nguyên tắc ấy là:

1. Các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng đều tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, để không cần phải chịu trách nhiệm trước nhân dân Việt Nam.

2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là do 14 uỷ viên của Ban Chấp hành Trung ương có thành tích bất lương và ác ôn nhất điều hành.

3. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng phải thực hiện đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể để tránh trách nhiệm các nhân và qui trách nhiệm cho hệ thống tập thể khi có khó khăn.

4. Tùy theo qui mô và tính chất quan trọng của từng phi vụ, tham nhũng lớn thì do những cơ quan có đủ thẩm quyền của Đảng tại trung ương giải quyết. Phi vụ nhõ hơn thì nhường lại cho địa phương và thuộc trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức Đảng ở địa phương chủ động tranh thủ không xung đột với quyền lợi của Đảng và các quyết định của cấp trên.

5. Nghị quyết của các hội nghị của Đảng đều phải được biểu quyết theo qui mô số tiền tham ô được, từ tham vặt nhỏ đến tham nhũng qui mô thông qua các tập đoàn kinh tế do Đảng thành lập để họp thức hóa và che mắt quần chúng.

6. Các nghị quyết của Đảng phải được chấp hành không điều kiện dù phải bán nước hại dân cũng phải phục tùng.


Điều 11. – Tổ chức của Đảng được lập ra theo Tập Đoàn kinh tế, đơn vị hành chính, đơn vị sản xuất hoặc công tác để tiện việc tham ô và tẩu tán tài sản tham ô được.

Điều 12. – Công An nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng. Tổng cục Chính trị đảm nhiệm công tác tay sai có tay cầm súng của Đảng, tuyệt đối trung thành một cách mù quán đối với Đảng.

Điều 13. - Việc bầu cử các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải bảo đảm đầy đủ tính chất dân ngủ và không cần chu đáo vì hơn 80 triệu dân đã bị ngu, nghèo hóa sau ngày đất nước thống nhất.

Điều 14. - Các đại biểu đi dự Đại hội đại biểu các cấp đều là thành phần bất hảo, có thành tích ác ôn và phải do Đảng chỉ định từ dưới lên.

Điều 15. - Đại hội toàn quốc và Đại hội các cấp phải được triệu tập đúng kỳ hạn để giử ổn định cho chế độ Độc Đảng.

Điều 16. - Các uỷ viên dự khuyết của các Ban Chấp hành các cấp để nhầm duy trì phương thức cha truyền-con nối cho các chức vụ quang trọng trong Đảng.
  
Điều 17. - Các cơ quan lãnh đạo của Đảng và cán bộ lãnh đạo cấp trên phải thường xuyên đốc thúc tổ chức cấp dưới và đảng viên, theo dỏi và hù dọa, hà hiếp, cướp bốc dân lành để lập công với Đảng.

Cơ quan lãnh đạo cấp dưới và cán bộ, đảng viên phải tôn trọng sự lãnh đạo tập trung thống nhất của cấp trên; phải chấp hành nghiêm chỉnh, không điều kiện và triệt để các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, của tập thể; nếu có ý kiến khác thì sẽ bị xét xữ như những tội phạm khác.

Điều 18. - Các tổ chức của Đảng và đảng viên, phải nói và làm theo nghị quyết của Đảng, không suy nghĩ, chỉ cấn “có đầu không óc”  thực hiện các đường lối, chính sách, chủ trương của cơ quan lãnh đạo cấp trên và cấp mình.

Báo chí của Đảng chỉ nói những gì Đảng cho phép nói, phải được đào tạo đầy đủ nghiệp vụ dối trá, xão quyệt để lừa dân hại nước.

Điều 19. - Ban Chấp hành các cấp của Đảng, có thể lập ra những ban đặc biệt làm cơ quan tham mưu đắc lực của mình cho các phi vụ tham ô xong việc rồi thì giải tán không để lại dấu vết.


Chương III

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng

Điều 20. - Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, đưa ra chính sách để duy trì quyến lợi của các đảng viên cao cấp.

Điều 21. - Nhiệm vụ của Đại hội đại biểu toàn quốc là: xét và chuẩn y cách thức phân chia quyền lợi và chứvc vụ  của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Điều 22. - Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng là 5 năm.

Điều 23. - Nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương là: tính toán những phi vụ tham nhũng và quản lý và phân phối đất chiếm đoạt và tiền tham ô được của dân lành cho các đảng viên các cấp.

Điều 24. - Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị toàn thể cử ra Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng thời cử Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương.


Chương IV

Tổ chức Đảng ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố, thị xã, huyện, quận hoặc khu phố

Điều 25. - Đại hội đại biểu tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không được vì những khó khăn thông thường mà trì hoãn việc qui họach giã để chiếm đoạt đất của dân chúng và tham ô vơ vét và hà hiếp dân lành.

Điều 26. - Nhiệm vụ của Đại hội đại biểu các cấp nói trên là: phải tuyệt đối thực hiện chính sách cướp đất của dân theo chủ trương công tác quan trọng thuộc phạm vi địa phương của mình.

Điều 27. - Nhiệm kỳ của tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc, thành uỷ, thị uỷ, huyện uỷ, quận uỷ hoặc đảng uỷ khu phố thuộc thành phố trực thuộc là hai năm.

Điều 28. - Nhiệm vụ của Ban Chấp hành chuẩn bị và chấp hành nghiêm chỉnh hoàn thành vượt mức kế hoạch cướp của và chiếm đoạt đất đai của dân cũng như tham nhũng của công được giao phó.

Điều 29. - Các Ban Chấp hành phải báo cáo tình hình hoạt động và nộp tiền tham ô và cướp bóc được của mình lên Ban Chấp hành trung ương hoặc cấp uỷ cấp trên theo đúng kỳ hạn.


Chương V

Tổ chức cơ sở của đảng

Điều 30. - Các tổ chức cơ sở Đảng lập thành nền tảng của Đảng, theo dõi quần chúng công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động.

Điều 31. - Hình thức tổ chức của tổ chức cơ sở Đảng, được quy định như sau:

Tổ chức cơ sở Đảng có thể gồm một hoặc nhiều chi bộ. Chi bộ là tổ chức tế bào cơ bản của Đảng, làm mật vụ để theo dõi và bám sát quần chúng.

Điều 32. - Đại hội đại biểu hay là Đại hội đảng viên của chi bộ thường lệ mỗi năm họp một lần để quyết định số tiền tham ô được để nộp lên cấp trên.

Điều 33. - Đại hội đại biểu hay là Đại hội đảng viên của chi bộ, xét và chuẩn y phượng pháp tham ô của dân và của công để đạt kế hoạch và chỉ tiêu được cấp trên giao phó.

Điều 34. - Bí thư đảng uỷ cơ sở, bí thư đảng uỷ bộ phận phải có là thành phần bất hảo lưu manh có ít nhất 3 năm tuổi đảng và phải được cấp uỷ cấp trên trực tiếp chuẩn y.

Điều 35. - Những nhiệm vụ cơ bản của tổ chức cơ sở Đảng là:

1. Các tổ chức cơ sở Đảng nói chung phải đặt trọng tâm sự lãnh đạo của mình vào việc làm cho người dân Việt phải Chết Nhát, Chết Nghèo, Chết Ngu, Chết Nhục theo cái định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng chỉ định.

2. Xây dựng và nắm vững lực lượng công an của địa phương, đơn vị; để khủng bố và đàn áp quần chúng theo sự chỉ đạo và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

3. Thường xuyên theo dỏi hăm dọa, khủng bố và đàn áp dân lành. Bắt và bỏ tù những người không đồng chính kiến và để thi hành các hình phạt tàn ác do Đảng đưa ra.

4. Ra sức xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có thủ đoạn bỉ ổi, có nghiệp vụ gian trá để tham ô của công và chiếm đoạt tài sản như đất và vàng bạc của quần chúng.

5. Các tổ chức cơ sở Đảng phải theo đúng chế độ, báo cáo kế hoạch và nộp tiền tham lên cấp trên, thu đảng phí và nộp tài chính lên trên theo quy định 
 Điều 36. - Các tổ chức cơ sở Đảng ở các đơn vị cơ sở sản xuất, kinh doanh, bệnh viện, trường học, xã, phường, đơn vị cơ sở trong quân đội, v.v. phải giám sát tình hình quần chúng trong cơ quan, kể cả người phụ trách để kịp thời phát hiện những ai có chính kiền khác với chủ trương Đảng.

Điều 37. - Các đảng uỷ cơ sở, đảng ủy bộ phận, chi ủy có nhiệm vụ thay mặt tổ chức đàn áp và chỉ đạo bỏ tù những ai làm trái với chủ trương, chính sách của Đảng.

  
Chương VI

Uỷ ban kiểm tra các cấp

Điều 38. - Uỷ ban Kiểm tra cấp dưới phải được cấp uỷ cấp trên chuẩn y. Uỷ ban Kiểm tra các cấp có nhiệm vụ thu tiền tham ô ở mổi cấp để nộp lên cấp trên.

Điều 39. - Uỷ ban Kiểm tra các cấp có nhiệm vụ thu tiền tham ô ở mổi cấp để nộp lên cấp trên.

Điều 40. - Uỷ ban Kiểm tra các cấp làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng. Uỷ ban Kiểm tra cấp trên có quyền kiểm tra tài chính và tiền tham ô được của Uỷ ban Kiểm tra cấp dưới.

Chương VII

Sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức nhà nước và tổ chức quần chúng

Điều 41. - Đảng lãnh đạo, Nhà nước chỉ là bù nhìn và dân chỉ là nô lệ trong cái thể chế Xã Hội Chủ Nghĩa. Đảng kiểm tra sự hoạt động của bộ máy nhà nước, bần cùng và u mê hoá và đàn áp quần chúng khi cần thiết để dể cai trị.

Điều 42. - Đảng không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của mình bằng vủ lực và bỏ tù nếu cần đối với các đoàn thể và tổ chức, quần chúng nào thể hiện sự không thuần phục. 

Điều 43. - Trong các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, của các tổ chức quần chúng, Đảng chỉ định đảng viên hoặc một số đảng viên, dân phải bầu những người được cử theo quy định của Trung ương.

Chương VIII

Đảng đối với đoàn thanh niên Cốc Sợ Hồ Chí Minh

Điều 44. - Đoàn Thanh niên Cốc Sợ Hồ Chí Minh là tay sai tin cậy của Đảng. Đoàn có nhiệm vụ tuyển mộ tất cả các thành phần du côn, bất hảo trong xã hội để đào tạo thành một đám tay sai thực hiện các chính sách và chủ trương của Đảng.

Điều 45. - Đoàn Thanh niên Cốc Sợ Hồ Chí Minh hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng. Đoàn phải nhồi sọ chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, cho đoàn viên và tầng lớp trẻ, bồi dưỡng những đoàn viên lưư manh nhất thành đầu đảng để cung cấp cho Đảng.

Điều 46. - Tổ chức các cấp của Đảng có nhiệm vụ lãnh đạo tổ chức các cấp của Đoàn trong việc bồi dưỡng, chọn lọc, cất nhắc cốt cán ma đầu của Đoàn thành các đầu Đảng tương lai.

Điều 47. - Sau khi đoàn viên Đoàn Thanh niên Cốc Sợ Hồ Chí Minh lập được công trạng mới được kết nạp vào Đảng và được công nhận là đảng viên chính thức.


Chương IX

Việc thi hành kỷ luật trong Đảng
                         
Điều 48. - Kỷ luật của Đảng là hình thức để che mắt vả xoa dịu mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng để tránh dân tạo phản ảnh hưởng tới sự sinh tồn của Đảng.

Điều 49. - Tùy theo tình hình cụ thể, tổ chức có thẩm quyền của Đảng sẽ áp dụng các hình thức kỷ luật như sau:

Đối với đảng viên: khiển trách, cảnh cáo, thuyên chuyển công tác. Đối với tổ chức của Đảng: khiển trách, cảnh cáo, xử lý nội bộ.

 Điều 50. - Về thẩm quyền thi hành kỷ luật:

1. Đối với từng đảng viên:

Kỷ luật đối với đảng viên phải do đầu đảng của chi bộ quyết định. Tuy nhiên Ban Chấp hành Trung ương sẽ quy định cụ thể trong việc chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ quyết định của tổ chức Đảng cấp dưới về các vụ thi hành kỷ luật đối với đảng viên.

2. Đối với tổ chức của Đảng:

Việc thi hành kỷ luật một tổ chức của Đảng phải do 14 đầu đảng trong Bộ Chính Trị quyết định cụ thể tối hậu.

Điều 51. - Việc thi hành kỷ luật của Đảng phải được bảo mật tuyệt đối. Sau khi hình thức kỷ luật đã được chính thức quyết định, cần giải thích cho người hoặc tổ chức bị thi hành kỷ luật hiểu rõ rằng quyết định đó chỉ là “giả mù sa mưa” để qua mặt dân chúng thôi.

Điều 52. - Việc tạm đình chỉ sinh hoạt Đảng của đảng viên hoặc tạm đình chỉ hoạt động của một tổ chức Đảng chỉ được áp dụng trong trường hợp phản lại đảng.

Điều 53. - Những đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước chỉ sẽ bị xử lý nội bộ để dân không thể khiếu nại.

Điều 54. - Sau khi đảng viên bị thi hành kỷ luật, tổ chức Đảng sẽ tìm cách ân xá và sẽ đề nghị lên cấp trên cho thăng quan tiến chức và  cất nhắc những đảng viên đó để tiếp tục phục vụ cho Đảng.


Chương X

Tài chính của Đảng

Điều 55. - Tài chính của Đảng gồm đảng phí và tài sản do đảng viên cướp và tham nhũng được dưới mọi hình thức và các khoản tiền do các lảnh đạo cao cấp chuyển ra nước ngoài.

Điều 56. - Ban Chấp hành Trung ương ra quyết định về chế độ cướp bốc và số tiền tham nhũng theo tỷ lệ từng loại do đảng viên toàn quốc cướp và chiếm đoạt được.

Điều 57. - Tài chính của Đảng là do cướp bốc nhà đất tài sản và tham nhũng từ dân mà ra. Ban Chấp hành Trung ương được chia 90%, và cơ quan tài chính có quyền chỉ định và kiểm tra công tác và nghiệp vụ cướp bốc 9%. 1% còn lại sẽ sữ dụng để cho lớp dân Việt nghèo đói vay qua các hương trình xóa đói giảm nghèo để tiếp tục được ủng hộ để Đảng được tồn tại.


Chương XI

Chấp hành điều lệ Đảng

Điều 58. - Mọi đảng viên và tổ chức của Đảng đều phải nghiên cứu kỹ lưỡng và nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng trong công tác cướp đất dân lành và phải kịp thời đấu tranh chống mọi hiện tượng để cho dân chúng biêt.

Điều 59. – Các đảng viên phải luôn nhớ rằng: sẽ có ngày toàn dân tộc Việt Nam đồng tâm hiệp sức tạo ra sức mạnh quần chúng để giải tán ĐCSVN mà thôi.